Hiển thị các bài đăng có nhãn Sức khỏe thú cưng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sức khỏe thú cưng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 16 tháng 5, 2013

Bệnh Cầu trùng ( Canine Coccidiosis )


 Cầu trùng thuộc động vật đơn bào nguyên sinh, thường thấy là Isospora canis sống trong đường ruột của chó, gây ra bệnh tiêu chảy phần lớn ở chó con dưới 6 tháng tuổi. Chó trưởng thành ít mắc vì chúng có khả năng miễn dịch mặc dù chúng có thể mang cầu trùng ở trong đường ruột và là kho thải các noãn nang ra ngoài qua phân gây lây lan bệnh .

1. Truyền lây của cầu trùng như thế nào?
Chó con sinh ra không mang cầu trùng trong đường ruột, sau đó thường xuyên tiếp xúc với phân của mẹcó chứa noãn nang của cầu trùng, cầu trùng xâm nhập và phát triển trong đường ruột và gây bệnh. Kỳ ủ bệnh 13 ngày, ngoài chó mẹ, cầu trùng còn lây lan từ chó này sang chó khác qua tiếp xúc, phương tiện vận chuyển, bệnh viên điều trị.
2. Triệu chứng của bệnh cầu trùng :
Tiêu chảy có thể từ mức độ nhẹ tới rất nghiêm trọng tuỳ theo mức độ bệnh. Trong phân có thể có máu và dịch nhầy, đặc biệt là trong những trường hợp bệnh nặng. Con vật nôn ra các chất chứa, chán ăn, bỏăn, mất nước có thể dẫn đến tử vong..
Các bác sĩ thú y có thể xét nghiệm một lượng phân nhỏđể tìm các noãn nang cầu trùng.
3. Những mối nguy hiểm là gì ?
Mặc dù nhiều trường hợp chỉ diễn ra nhẹ, không khốc liệt nhưng tiêu chảy ra máu, mất nước, kế phát các bệnh ký sinh trùng, vi trùng, virus khác gây tử vong. Phân thải mang trùng ra môi trường làm lây lan bệnh cho chó ở nhiều lứa tuổi.
4. Điều trị bệnh cầu trùng cho chó:
Có thể dùng thuốc: sulfadimethoxine (Albon®) và trimethoprim-sulfadiazine (Tribrissen®) đều có hiệu qủa trong điều trị và phòng bệnh do cầu trùng. Tuy những thuốc này không giết chết cầu trùng nhưng có tác dụng kìm hãm sự sinh sản của chúng, việc loại bỏ cầu trùng ra khỏi ruột là không thể nhanh chóng, gồm việc ngăn chặn sự sinh sản của động vật nguyên sinh, thời gian để kháng thể hình thành trong cơ thể chúng và di tới các cơ quan. Liệu trình điều trị thường kéo dài từ 1 đến 3 tuần.
5. Phòng ngừa và kiểm soát bệnh cầu trùng như thế nào ?
Cầu trùng được phân tán đi nhờ phân của những động vật mang mầm bệnh, vì vậy việc kiểm soát chặt chẽ phân của con vật là điều rất quan trọng. Tất cả phân sẽ được loại bỏ. Chuồng nuôi cần phải được bảo đảm rằng thức ăn, nước uống không bị vấy nhiễm bởi phân. Nước sạch sẽđược cung cấp mọi lúc. Không phải đại đa số thuốc sát trùng đều chống được cầu trùng, đốt phân, hấp ướt, dội nước sôi, hoặc dung dịch NH3 loãng là những cách tốt nhất để tiêu diệt cầu trùng. Cầu trùng có thể chống lại sựđông lạnh( không bị tiêu diệt khi nhiệt độ thấp).
Gián và ruồi là những con vật có thể mang cầu trùng từ nơi này đến nơi khác.Trong trường hợp chuột và các động vật khác có thểăn phải cầu trùng và sauđó bị chó giết và ăn thịt, nó có thể gây bệnh cho chó. Bởi vậy việc kiểm soát chặt chẽ côn trùng và loài gặm nhấm là rất quan trọng trong việc phòng chống bệnh cầu trùng.
Bệnh Cầu trùng ở chó không gây bệnh cho người.

Bệnh về tai ở chó


Bệnh về tai là một trong những căn bệnh phổ biến nhất mà chúng ta thấy ở vật nuôi. Tên y học của chứng viêm ống tai ngoài là “otitis externa”. Người ta thống kê có đến 20% số lượng chó bị nhiễm chứng bệnh này.

Chó là một loài vật trung thành với chủ, vì vậy rất nhiều người thích nuôi. Tuy nhiên, để chú cún sống khỏe mạnh, vui vẻ bên cạnh gia đình bạn, bạn cần hiểu rõ một số bệnh mà chúng thường mắc phải – đặc biệt là các bệnh về tai, để sớm phát hiện và chữa trị cho chúng. Những dấu hiệu của các vấn đề về tai này bao gồm:
- Mùi hôi.
- Cào hoặc cọ xát tai và đầu.
- Tai bị chảy mủ.
- Vành tai hay lỗ tai bị đỏ hoặc sưng tấy.
- Lắc đầu hoặc nghiêng đầu về một bên.
- Đau nhức quanh tai.
- Thay đổi biểu hiện như suy nhược hoặc nhạy cảm.
Giống chó Cocker Spaniel dễ mắc bệnh về tai do độ ẩm trong tai cao.
Các nguyên nhân gây bệnh về tai: Chó có thể bị các bệnh về tai bởi nhiều lý do khác nhau. Khi chúng ta thấy một chú chó bị bệnh về tai, thì cần nghĩ đến các khả năng bị mắc bệnh:
1. Dị ứng:
  Chó bị dị ứng với thức ăn hoặc thứ gì đó mà chúng nuốt vào hoặc chạm vào da của chúng. Thực tế thì bệnh về tai có thể là dấu hiệu kích ứng đầu tiên, vì kích ứng làm thay đổi môi trường bên trong tai, nên thỉnh thoảng chúng ta thấy các bệnh nhiễm trùng thứ yếu do vi khuẩn hoặc men. Nếu chúng ta chỉ điều trị nhiễm trùng tai, thì sẽ không trị hết nguồn gốc gây bệnh. Chúng ta cần trị bệnh dị ứng nữa.
2. Động vật ký sinh:
  Ve tai Otodectes cynotis là nguyên nhân phổ biến gây ra các chứng bệnh về tai ở mèo, nhưng ít phổ biến ở chó. Tuy nhiên, một số loài chó quá nhạy cảm với ve tai, và kết quả là có thể bị ngứa rất nhiều. Những chú chó này có thể cào nhiều đến nỗi làm tai của chúng bị tổn thương nặng.
3. Nhiễm trùng tai:
    Nhiều loại vi khuẩn và men Malassezia pachydermatis gây nhiễm trùng tai. Tai bình thường và khỏe mạnh có sức đề kháng tốt chống các loại sinh vật này, nhưng nếu môi trường vùng tai thay đổi do dị ứng, bất thường về hoocmon, hoặc độ ẩm, vi khuẩn và men có thể sinh sôi nảy nở rất nhiều và phá vỡ các hàng rào đề kháng này.
4. Các ngoại vật:
  Râu thực vật, những vật “bám chặt” nhỏ bé đó bám vào quần áo và lông chó, thỉnh thoảng có thể xâm nhập vào lỗ tai. Sự hiện diện của chúng gây ra kích ứng, làm chó cào tai. Vì thế khi bạn chải lông cho chó sau khi đi dạo, hãy bảo đảm rằng bạn cũng kiểm tra tai cho nó.
5. Những bất thường do hoocmon gây ra:
  Thiếu hoặc thừa nhiều loại hoocmon khác nhau có thể gây ra các bệnh về da và tai. Hoocmon tuyến giáp, glucocorticoids do tuyến thượng thận sản xuất ra và hoocmon giới tính, tất cả đều ảnh hưởng đến sức khỏe của da và tai.
6. Môi trường vùng tai:
  Vi khuẩn và men không cần một môi trường nào tốt hơn để sống là một lỗ tai ấm, tối và ẩm. Chó có tai rũ, mềm như giống chó Cocker Spaniels (giống chó săn chuyên nghiệp) có thể mắc bệnh về tai do độ ẩm quá mức hình thành trong tai của chúng.
7. Các nguyên nhân khác:
  Có nhiều bệnh di truyền hiếm hoi khác nhau xảy ra ở nhiều nhóm máu hay dòng giống khác nhau và ảnh hưởng đến tai. Các bệnh này gồm có viêm da cơ ở giống Collies và Shetland Sheepdogs, tiết nhiều bã nhờn chủ yếu ở Shar Peis và Chó săn Trắng vùng Cao nguyên. Có thể nhìn thấy ung thư biểu mô tế bào hình vảy, khối u ác tính và các khối u khác trong tai.
Giống chó Collies.
  Chẩn đoán:
    Bởi vì có nhiều nguyên nhân tiềm tàng gây ra các chứng bệnh về tai, nên chúng ta không thể chỉ nói rằng đó là một chứng bệnh nhiễm trùng tai do vi khuẩn, điều trị bằng thuốc kháng sinh sẽ hết bệnh. Thường thì cần làm nhiều việc hơn. Bác sĩ thú y có thể dùng ống soi tai để soi vào trong lỗ tai và xác định mức độ viêm lúc này, xem coi có liên quan đến màng nhĩ (màng nhĩ tai) và có bất kỳ ngoại vật, khối u, hoặc các nguyên nhân tiềm tàng khác gây ra bệnh hay không. Miếng gạc tai có thể được lấy ra, được xét nghiệm trên bản kính mang vật của kính hiển vi, được nhuộm màu và xét nghiệm vi khuẩn, men, và ve. Một cuộc kiểm tra kỹ lưỡng và khám sức khỏe có thể giúp xác định rằng đây có thể là bệnh về hoocmon, dị ứng, di truyền hay không. Nếu có những dấu hiệu khả nghi, thì cần tiếp tục xét nghiệm chẩn đoán thêm. Nếu chứng nhiễm trùng do vi khuẩn không phản ứng lại với liệu pháp điều trị bằng kháng sinh ban đầu, thì cần tiến hành cấy vi khuẩn và tính nhạy cảm để lựa chọn một thuốc kháng sinh khác.
Kiểm tra tai cho chó.
Phương pháp điều trị
  Cách điều trị sẽ tùy thuộc vào nguyên nhân nào đã gây ra bệnh về tai và kết quả là có những chứng bệnh thứ yếu nào. Thuốc kháng sinh được dùng để điều trị bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn và thuốc chống nấm để điều trị nhiễm trùng do men. Trong các thuốc chữa bệnh này, thường có các loại Glucocorticoids như dexamethasone để giảm mức độ viêm trong tai. Các bệnh về tai do bệnh cơ thể nói chung, như bất thường về hoocmon hay dị ứng gây ra cần phải dùng liệu pháp điều trị chung cho các loài chó như thay hoocmon, xét nghiệm dị ứng và gây giãn nhạy cảm (miễn dịch trị liệu).
1. Dị ứng:
Dị ứng thường được điều trị bằng cách rửa sạch tai bằng dung dịch rửa tai, thuốc kháng hixtamin và phần bổ sung axit béo. Đôi khi cần dùng đến corticosteroids. Các loại thuốc này có thể ở dạng uống hoặc tiêm, hay có thể đắp lên chỗ dị ứng. Xét nghiệm dị ứng và miễn dịch trị liệu (gây giãn nhạy cảm) có thể là cách tốt nhất để trị bệnh về tai.
2. Ve tai:
   Ve tai có thể gây ra các mảnh vụn khô, sậm màu, dễ vỡ vụn trong tai giống như cặn bã cà phê. Đối với bệnh này, dùng thuốc điều trị kèm theo rửa sạch tai để diệt ve sẽ giúp giảm bệnh, mặc dù cách điều trị có thể cần được tiếp tục nhiều tuần tùy theo sản phẩm được sử dụng.
3. Men:
  Men có thể gây ra các chứng bệnh về tai trầm trọng. Chúng ta thường quan sát thấy một dịch tiết màu nâu giống như sáp và một mùi hôi khó chịu. Rửa sạch tai hằng ngày sẽ rất có ích, nhưng thường các chứng nhiễm trùng này rất khó điều trị, cần phải chữa bằng thuốc đặc trị vì thuốc kháng sinh không làm tan được men. Nếu bạn nghi ngờ chứng nhiễm trùng do men trong tai chú chó của mình, thì hãy hỏi ý kiến bác sĩ thú y.
4. Nhiễm trùng tai do vi khuẩn:
   Nhiễm trùng tai do vi khuẩn cũng có thể gây mùi hôi và thường có dịch tiết hơi vàng hơn. Nếu bệnh nghiêm trọng hoặc mãn tính, chỉ rửa sạch tai thôi sẽ không trị được bệnh và gần như luôn cần đến thuốc kháng sinh. Một lần nữa, hãy hỏi ý kiến bác sĩ thú y. Nhiễm trùng bên trong lỗ tai nếu nặng thì có thể lây lan đến vùng tai giữa và tai trong. Bất kể nguyên nhân nào gây ra bệnh về tai, chúng ta phải luôn giữ tai và lỗ tai của chó sạch sẽ.
Làm sạch tai
  Tai chú chó của bạn có dạng giống chữ L và các cặn vụn thường đọng lại ở góc L. Để lấy đi các cặn vụn này, hãy đổ thuốc rửa tai vào trong lỗ tai chú chó của bạn. Thuốc rửa tai nên có tính axit nhẹ nhưng không nên làm nhói tai. Mát xa vùng dái tai trong vòng 20-30 giây để làm mềm và lấy đi các cặn vụn. Lau đi các cặn vụn mềm và cặn thừa còn lại bằng bông ráy tai. Lập lại quá trình này cho đến khi bạn thấy không còn cặn vụn nữa. Hãy để chú chó của bạn lắc đầu để lấy đi các cặn thừa còn lại. Khi làm sạch xong, nhẹ nhàng lau vành tai của chó và vùng phía dưới tai bằng khăn tắm.
Có thể dùng miếng gạc bôi bằng bông để lau sạch phần phía trong vành tai và phần lỗ tai mà bạn có thể nhìn thấy. Không nên đưa chúng sâu vào bên trong lỗ tai vì việc đó làm các cặn vụn đóng chặt trong lỗ tai hơn là giúp lấy đi các cặn vụn đó. Một số bệnh về tai rất đau đớn, chó phải được gây tê để thực hiện tốt việc làm sạch tai. Bạn có thể nhận ra rằng chú chó của mình không thích làm sạch tai bởi vì việc đó thật khó chịu. Hãy nói chuyện với chú chó trong suốt quá trình làm sạch tai. Sau khi tai đã sạch, để một lát cho tai khô. Sau đó bạn có thể bôi lên tai bất kỳ thuốc điều trị nào đã được kê đơn.
  Ngừa các bệnh về tai
    – Mấu chốt để giúp chó có được đôi tai khỏe mạnh là giữ sạch tai chúng.
    – Kiểm tra tai chú chó của bạn hằng tuần. Có thể có một lượng nhỏ cặn sáp trong đôi tai bình thường.
    – Nếu chú chó của bạn bơi nhiều, có đôi tai rũ xuống, hoặc có tiền sử mắc bệnh về tai, thì nên thường xuyên rửa sạch tai (thường là một đến ba lần mỗi tuần). Tiến hành rửa sạch tai giống như đã miêu tả phía trên.
    – Có thể hớt đi lông thừa quá mức quanh tai để có nhiều không khí hơn. Tuân theo hướng dẫn của bác sĩ thú y về cách điều trị bất kỳ trạng thái tiềm ẩn nào làm chú chó của bạn có nguy cơ mắc các bệnh về tai.   Cuối cùng bạn cần lưu ý, nếu chú chó của bạn có biểu biện khó chịu dữ dội, đôi tai có mùi hôi, hoặc lỗ tai trông bất thường, thì nên đem ngay đến bác sĩ thú y. Nếu chú chó của bạn có màng nhĩ bị thủng hoặc yếu, thì việc dùng dung dịch rửa tai và thuốc điều trị có thể gây hại nhiều hơn là giúp ích.
 [kyu]

Chủ Nhật, 12 tháng 5, 2013

Hướng dẫn bạn cách tắm cho mèo


Hướng dẫn bạn cách tắm cho mèo

Mèo không hề quá sợ nước như nhiều người từng nghĩ. Tâm lý sợ nước của mèo hoàn toàn có thể khắc phục nếu như bạn là người chủ tốt và chăm sóc mèo chu đáo.




Chuẩn bị:

Nước nóng (bắt buộc), sữa tắm (Loại dành riêng cho chó mèo như Fay), khăn bông thấm nước (Hoặc bất kỳ tấm vải nào thấm nước nào cũng được. Bắt buộc).

Chú ý: Bạn nên mua loại sữa tắm chuyên dụng cho chó mèo bởi da của chó mèo khác với da của người. Sẽ không tốt nếu như lấy dầu gội hay sữa tắm của người dùng cho chó mèo.

Hướng dẫn cách tắm:

Tắm cho mèo cần thống nhất 2 điểm: Nước tắm ấm nóng và bạn cùng tắm với nó.

Chắc chắn bạn sẽ ướt nhẹp khi tắm cho mèo. Đừng cố gắng giữ thân người khô ráo bởi việc này chỉ làm cho mèo sợ hãi và lo lắng. Nó có thể cào cấu như điên và gào thét inh ỏi trong suốt thời gian tắm.

Bước 1: Pha nước tắm nóng vừa đủ dùng cho mèo (Nếu nhà bạn dùng voi sen thì pha nước ấm vừa đủ luôn. Nếu không dùng vòi sen mà đun nước thì lưu ý cần pha nóng hơn một chút do lượng nhiệt của nước không giữ được).

Bước 2: Bạn hãy cởi hết đồ của mình ra (Cùng lắm thì mặc đồ lót).

Bước 3: Ôm mèo vào trong lòng, dùng nước ấm dội lên người mèo. Tay chà nhẹ nhàng và luôn an ủi, nói chuyện với mèo để nó quên đi việc “tắm”.

Đây chính là lý do vì sao bạn cần cởi đồ khi tắm cho mèo. Ngoài việc tránh làm ướt đồ, việc cọ sát cơ thể của chủ còn khiến mèo cảm giác an tâm. Thân nhiệt của người trung bình 37 độ và nó cũng là nguồn ấm cho mèo yêu.



Bước 4: Cho sữa tắm vào tay và bắt đầu thoa nhẹ lên người mèo (Chú ý ở 4 chân, vùng hậu môn và đôi tai của mèo).

Bước 4 phải thật nhẹ nhàng và cẩn thận bởi đây là giai đoạn mèo đã “thấm” nước. Nước dù ấm nhưng khi qua lớp lông và thấm vào thịt mèo, nó bắt đầu cảm giác bất an khi cơ thể ướt át. Lúc này bạn cần liên tục trấn an mèo bằng cách ôm nó chặt trong lòng để nó cảm nhận bạn thật gần gũi và trò chuyện cùng nó.

Chú ý: Vùng tai và mắt mèo phải thật cẩn thận không sữa tắm dính vào. Bạn có thể chỉ cần dùng tay thấm nước vuốt nhẹ các bẩn trong vành tai mèo cũng được.


Bước 5: Dùng nước nóng gột lại lần cuối cho mèo. Đây là lúc mèo thực sự vùng dậy rồi đó . Mùi sữa tắm, cái lạnh của nước khiến cho chúng sợ hãi và có thể “tấn công” bạn. Tuy nhiên, bạn hãy yên tâm bởi nó không quá hung hãn đâu. Hãy nói chuyện lớn át tiếng kêu của chúng. Gọi tên và nựng chúng.

Bước 5 bạn cần làm nhanh chóng và dứt điểm nhé. Càng lâu mèo càng khó chịu và có thể phát khùng lên đó.

Bước 6: Ôm mèo đã tắm và đặt vào khăn bông lau thật sạch cơ thể cho mèo (Đặc biệt 2 tai, 4 chân và vùng bụng). Nếu nhà bạn có máy sấy tóc thì có thể dùng (Với điều kiện mèo nhà bạn không sợ tiếng o o từ chiếc máy sấy tóc).


Nếu bạn thường xuyên tắm cho mèo, chúng sẽ quen và không hề lo ngại nữa. Nên nhớ rằng lần đầu tắm rất quan trọng bởi nếu bạn làm chúng hoảng, rất khó để có lần 2.

Thời gian và cách chăm sóc mèo


Hôm nay tôi xin đóng góp một chút về chăm sóc mèo nho nhỏ cho những người mới nuôi mèo:

1.Chăm sóc mèo: 

Chọn giống mèo khỏe mạnh, đảm bảo các yêu cầu sau: dáng đi nhanh nhẹn, lông mượt, mắt sáng, xung quanh miệng và vành mắt sạch sẽ không có rỉ bẩn. Dùng tay nắm da gáy mèo nhấc lên khỏi mặt đất thấy hai chân sau và đuôi quắp về phía trước bụng. Đối với mèo còn nhỏ trước 35 ngày tuổi, để biết được mèo đực hay mèo cái hãy nhìn vào phía sau dưới hậu môn, nếu có 3 chấm đen (tính cả hậu môn) đó là mèo đực, có 2 chấm đen là mèo cái.

***Nuôi dưỡng mèo cái

Làm quen và cố định mèo: khi mới mang mèo về nhà phải buộc dây cố định vào cổ mèo. Dây buộc cổ sao cho nút dễ cởi, nhưng lại là nút chết để không tụt ra mà không làm mèo nghẹn cổ. Dây buộc dài khoảng 80 – 100 cm. Cột mèo cố định vào một nơi, dùng hộp các tông thành thấp, độn vải mềm làm ổ để cạnh nơi buộc mèo để mèo nằm. Cần chú ý thường xuyên quan sát và thay đệm lót cho mèo. Thời gian cố định khoảng 3 ngày là mèo quen nhà, có thể thả mèo tự do.

Cách dạy mèo đi vệ sinh: dùng hộp, chậu nhựa, sắt thành thấp, cho sỉ than, cát vào rồi để cạnh nơi buộc mèo, theo bản năng mèo sẽ đi vệ sinh vào đó. Phải thường xuyên thay sỉ than, không để lưu cữu bẩn thỉu, mèo sẽ không chịu đi vệ sinh vào đó.

Thức ăn của mèo: chủ yếu là cơm cá, thịt, rau… Khi còn non, mèo rất cần thức ăn nhiều đạm nên thường xuyên cho mèo ăn cá, cá nên nướng hoặc kho và chú ý không cho mèo ăn mặn.

***Phát hiện mèo cái động dục

Khi mèo cái nuôi được khoảng 6 tháng sẽ bắt đầu động dục. Khi động dục mèo phát ra tiếng kêu gọi đực, âm thanh phát ra rõ rệt nhất vào ban đêm thanh vắng. Thời gian mèo động dục khoảng 3 – 4 ngày, chịu đực vào ngày thứ 4.

Mèo cái được càng nhiều mèo đực phối càng tốt, vì màu sắc, lông của đàn con sẽ đẹp hơn và sức sống cao hơn.

***Chăm sóc mèo đẻ:

http://www.nucleopet.com.br/images/blog/Care-For-a-Pregnant-Cat.jpg

Mèo cái chửa 59 – 62 ngày (2 tháng) thì đẻ. Khi chuẩn bị đẻ mèo mẹ có những biểu hiện: mèo mẹ tìm ổ đẻ, có hiện tượng sệ bụng rõ rệt, đi lại chậm chạp thận trọng, bộ phận sinh dục bên ngoài sưng to và nhão ra, bầu vú căng to, vắt có sữa đầu màu trắng đặc sánh chảy ra.

Khi thấy mèo mẹ có biểu hiện sắp đẻ, phải làm ổ cho mèo đẻ. Ổ đẻ làm bằng hộp các tông, chậu nhựa có lót vải mềm làm ổ choe mèo đẻ và phải đặt ở nơi kín đáo, sạch sẽ, yên tĩnh, ít người qua lại.

Hãy để cho mèo mẹ tự đẻ, tự liếm và cắn rốn cho con, chỉ can thiệp khi cần thiết.

Tuyệt đối không cho người lạ qua lại chỗ mèo đẻ vì sẽ gây kích thích cho mèo mẹ, chúng sẽ tha con đi nơi khác, không cho con bú hay cắn chết con…

***Chăm sóc mèo con:

Mèo con mới đẻ hoàn toàn nhắm mắt, có thể tự tìm vú mẹ để bú. mèo mẹ sẽ dọn vệ sinh cho mèo con trong suốt thời gian cho con bú sữa.

Thức ăn chủ yếu của mèo con là sữa mẹ, nên thời gian nuôi con cần phải nuôi dưỡng, chăm sóc mèo mẹ chu đáo. Cho mèo mẹ ăn 3 – 4 bữa/ngày bằng thức ăn giàu dinh dưỡng. Nếu thấy mèo mẹ ít sữa, mèo con đói luôn mồm kêu hãy dùng thêm sữa bò pha với nước ấm cho mèo mẹ uống để tăng thêm lượng sữa nuôi con. Khoảng ngày thứ 13 từ lúc sinh ra mèo con bắt đầu mở mắt.

Khoảng ngày thứ 35 tập cho mèo con ăn bằng bột hoặc bằng cơm nhão. Sau 45 ngày tuổi mèo con đã tự ăn cơm là có thể tách khỏi mẹ.

2. Thời gian của mèo 

***Lúc chào đời:

- Không mở mắt, không nghe được tiếng động( mù điếc tự nhiên ), hoàn toàn không tự chủ cá thể trừ phản xạ bú mẹ, và tiếng kêu khóc yếu ớt chào đời.

- Bạn cần quan tâm, chăm sóc đặc biệt mèo con trong vòng 48 giờ sau khi sinh.

***Từ 5 – 10 ngày: bắt đầu mở mắt”ti hí”!!!

***Từ 8 – 12 ngày: Mở mắt hoàn toàn.

***16 – 20 ngày: Biết bò trườn, nhoài ra khỏi ổ.

***3 – 4 tuần: Nhai, gặm được đồ ăn, vật cứng. Thay một số răng sữa đầu tiên. Có thể luyện tập toilet đúng chỗ.

***6 tuần:

- Có thể “cai sữa” mẹ, thích ăn đồ ăn của mẹ và thích bắt chước những động tác, cử chỉ của mẹ hoặc mèo trưởng thành.

***8 tuần tuổi: Thích sống độc lập, không muốn bám theo, phụ thuộc mèo mẹ.

***6 tháng tuổi: Thay tiếp răng để có bộ răng hoàn chỉnh của loài vật ăn thịt.

***Từ 7 – 9 tháng tuổi:

Cả đực và cái bắt đầu có dấu hiệu động dục, thích đùa nghịch, vờn âu yếm nhau. Mèo cái bắt đầu hành kinh lần đầu tiên “là con gái”, có thể mang thai và sinnh con.Thời gian này nếu không có nhu cầu nhân giống, thiến và triệt sản là tốt nhất để phòng tránh nhiều bệnh sinh sản hoặc u, ung thư đường sinh dục. Mèo dễ bị mất, thất lạc khi đi tìm bạn tình.

Đặc biệt lưu ý : không nuôi cùng anh chị em ruột, mẹ con khác nhau về tính biệt, phòng lai đồng huyết.

***Trên 1 năm tuổi : Cơ thể hoàn chỉnh, có thể cho phối giống hoặc sinh sản.

***Từ 6 – 8 năm tuổi: Bắt đầu biểu hiện “lão hóa”: Chậm chạp, vụng nuôi con, mắt và phản xạ kém, béo phì sinh học. Bộ răng ngả màu vàng từ chân gốc răng.

***Trên 12 năm tuổi: Già yếu, lú lẫn, dễ rơi, ngã. Vẫn toilet có thể đúng chỗ nhưng hay bị dây bẩn ra ngoài do cơ vòng hậu môn và bàng quang yếu. Răng vàng ố toàn bộ, rụng tự nhiên. Mèo cần phải được chăm sóc rất cẩn thận, ăn thức ăn dễ tiêu hóa giảm chất đạm, mỡ trong khẩu phần. Cần khám BSTY nếu có những dấu hiệu đặc biệt.

***Từ 15 – 18 năm tuổi:

Là giới hạn tuổi thọ của mèo. Dễ phát sinh nhiều bệnh về tim mạch, gan thận hoặc ung thư để…về với “cát bụi”. Bạn đừng quá buồn khi phải vĩnh biệt chúng vì ở tuổi này mới “ra đi”, mèo của bạn đã hạnh phúc vì có nhưng ông bà chủ tuyệt vời đấy!

Tôi chúc các ông bà chủ sẽ thật hạnh phúc bên con thú cưng của mình.yes

Vì sao chó thích gặm xương?


Vì sao chó thích gặm xương?

Chó thích gặm xương là điều mà ai cũng biết nhưng lí do của hành động này thì mới chỉ được các nhà khoa học tìm ra trong một nghiên cứu gần đây.

Đặc tính thích gặm xương của loài chó là yếu tố di truyền và vẫn được lưu giữ sau hàng triệu năm tiến hóa. Thời cổ đại, tổ tiên chó ngày nay là những con thú săn mồi, với khẩu phần ăn chủ yếu là thịt các loài động vật hoang dã. Quá trình chọn lọc tự nhiên giữ lại những con chó có bộ hàm khỏe với khả năng săn mồi tốt hơn.

Tiến sĩ Joao Munoz-Doran từ Đại học Quốc gia Colombia, Mỹ, cho biết,việc nghiên cứu các đặc tính của hơn 300 loài chó giúp ông và các đồng nghiệp tạo ra được gia phả loài chó. Yếu tố được dùng để phân loại chính là chế độ ăn của từng loài.

Ông Doran khẳng định: “Có 3 loại chó là chó ăn thịt, hypercarnivores và chó ăn tạp”. Tổ tiên của loài chó ngày nay được phân vào lớp hypercarnivores (70% khẩu phần ăn hàng ngày là thịt).
Phân tích kết cấu hộp so cho thấy, những con chó này nay có cơ hàm khỏe và răng nanh lớn hơn chó cổ đại săn mồi theo bầy đàn thời xưa. 8 triệu năm trước, Trái đất có nhiều bình nguyên rộng lớn, thuận lợi cho sự phát triển của những loài động vật ăn cỏ. Điều kiện tự nhiên tốt giúp kích cỡ những con vật ăn cỏ lớn hơn, buộc loài chó phải săn bắt theo đàn để hạ gục con mồi.

Quá trình chọn lọc tự nhiên giúp những con có có xương hàm khỏe, răng nanh lớn hơn có ưu thế trong quá trình đi săn. Và để đủ sức ngoạm chặt con mồi, loài chó “sáng tạo” ra bài tập riêng là gặm xương.

Trong suốt quá trình tiến hóa, loài chó buộc phải gặm xương để tăng cường sự chắc khỏe cho bộ hàm và tận dụng nốt những chất dinh dưỡng bên trong xương. Trải qua hàng triệu năm, việc gặm xương trở thành một trong những đặc tích di truyền của loài chó. Những con chó hoang dã thừa hưởng đặc tính này tồn tại tốt hơn trong quá trình chọn lọc tự nhiên.

Chó nhà ngày nay được con người thuần hóa từ loài chó hoang dã nhưng vẫn còn nhiều đặc tính di truyền, trong đó có gặm xương.

Thứ Tư, 8 tháng 5, 2013

Gây nôn khẩn cấp cho chó


  Rất quan trọng loại trừ chất chứa dạ dày khi chó ăn phải hóa chất độc, bả chuột, cỏ cây độc, thức ăn độc và dị vật. Đặc biệt bả chuột, nếu thấy chó vừa ăn phải, gây nôn ngay có thể sơ cứu quyết định tới trên 80% mạng sống của chó.

Tại sao phải gây nôn khẩn cấp cho chó?
Là biện pháp rất quan trọng loại trừ chất chứa dạ dày khi chó ăn phải hóa chất độc, bả chuột, cỏ cây độc, thức ăn độc và dị vật. Đặc biệt bả chuột, nếu thấy chó vừa ăn phải, gây nôn ngay có thể sơ cứu quyết định tới trên 80% mạng sống của chó.
Phương pháp gây nôn :
Dùng H2O2 ( nước ô-xy già 3%), thuốc có bán ở hầu hết các hiệu thuốc Tây , liều lượng : 1 thìa cà-phê cho 2-5 kg thể trọng, cho uống 15- 20 phút/ 1 lần, uống 3 lần cho tới khi chó nôn ra được chất chứa dạ dày. Dân gian có kinh nghiệm dùng mùn thớt, nhưng dùng nước Ô-xy già dễ dàng hơn và hiệu quả nhanh chóng.
Làm gì sau gây nôn?Quản lý chặt chẽ chất nôn có độc hoặc nghi có độc. Không để chó khác ăn phải hoặc nhiễm sang đồ ăn của người.Tùy thuộc vào chất độc bạn biết hoặc nghi chó ăn phải, mời ngay bác sỹ thú y khám và có liệu pháp giải độc tiếp. Báo cáo Bác sỹ thú y việc gây nôn khẩn cấp và đề nghị xét nghiệm độc chất học của chất chứa nếu có điều kiện.
Khuyến cáo:Chủ chó nên có sẵn vài lọ nước Ô-xy già trong túi thuốc thông thường của chó. Hoặc mách giùm người khác trong trường hợp khẩn cấp cần gây nôn cho chó. Theo Greenvet - Hanoi
Tại sao phải gây nôn khẩn cấp cho chó?
Là biện pháp rất quan trọng loại trừ chất chứa dạ dày khi chó ăn phải hóa chất độc, bả chuột, cỏ cây độc, thức ăn độc và dị vật. Đặc biệt bả chuột, nếu thấy chó vừa ăn phải, gây nôn ngay có thể sơ cứu quyết định tới trên 80% mạng sống của chó.
Phương pháp gây nôn:
Dùng H2O2 ( nước ô-xy già 3%), thuốc có bán ở hầu hết các hiệu thuốc Tây , liều lượng : 1 thìa cà-phê cho 2-5 kg thể trọng, cho uống 15- 20 phút/ 1 lần, uống 3 lần cho tới khi chó nôn ra được chất chứa dạ dày. Dân gian có kinh nghiệm dùng mùn thớt, nhưng dùng nước Ô-xy già dễ dàng hơn và hiệu quả nhanh chóng.
Làm gì sau gây nôn?
Quản lý chặt chẽ chất nôn có độc hoặc nghi có độc. Không để chó khác ăn phải hoặc nhiễm sang đồ ăn của người.Tùy thuộc vào chất độc bạn biết hoặc nghi chó ăn phải, mời ngay bác sỹ thú y khám và có liệu pháp giải độc tiếp. Báo cáo Bác sỹ thú y việc gây nôn khẩn cấp và đề nghị xét nghiệm độc chất học của chất chứa nếu có điều kiện.
Khuyến cáo:
Chủ chó nên có sẵn vài lọ nước Ô-xy già trong túi thuốc thông thường của chó. Hoặc mách giùm người khác trong trường hợp khẩn cấp cần gây nôn cho chó. 

Bệnh còi xương ở chó con

Bệnh còi xương ở chó con


  Bệnh còi xương là một loại bệnh ở gia súc non trong thời kỳ phát triển, do trở ngại về trao đổi canxi, photpho và vitamin D gây ra. Tổ chức xương không được canxi hóa hoàn toàn nên xương phát triển kém.

I. Nguyên nhân
Có nhiều nguyên nhân:
- Do thức ăn (hoặc sữa mẹ) thiếu canxi, photpho, vitamin D. Hoặc tỷ lệ giữa canxi và photpho không thích hợp.
- Do con vật ít được tắm nắng, chuồng trại thiếu ánh sang, từ đó ảnh hưởng đến tổng hợp vitamin D.
- Do chó bị bệnh đường ruột làm trở ngại đến việc hấp thu khoáng.
- Do chó bị thiểu năng tuyến phó giáp trạng gây mất cân bằng tỷ lệ Ca, P trong máu.
II. Cơ chế sinh bệnh
Khi hàm lượng canxi trong cơ thể giảm, tỷ lệ Ca/P bị phá vở ảnh hưởng đến sự tạo xương và sụn, nhất là sự hóa cốt ở các đầu xương. Do vậy, xương bị biến dạng, đặc biệt rõ ở xương ống. Những con bị bệnh ống xương thường cong queo, ảnh hưởng đến vận động, làm cho gia súc què hoặc liệt.
Ngoài hiện tượng xương bị biến dạng, khi hiếu canxi còn gây triệu chứng co giật ở con vật bệnh. Cũng do thiếu canxi, photpho con vật hay ăn bậy nên dễ mắc bệnh đường tiêu hóa, con vật ngày càng gầy, chậm lớn, khả năng kháng bệnh kém.
III. Triệu chứng
- Giai đoạn đầu: con vật thường giảm ăn, tiêu hóa kém, thích nằm, có hiện tượng đau các khớp xương.
- Giai đoạn bệnh tiến triển: con vật hay ăn dở, liếm bậy bạ, mọc răng và thay răng chậm. Một số trường hợp còn có hiện tượng co giật từng cơn.
- Cuối thời kỳ bệnh: xương bị biến dạng dạng, các khớp sưng to, các xương ống chân cong queo, sống lưng cong lên hay vặn vẹo, lồng ngực và xương chậu hẹp, ức lồi,... con vật gầy yếu dễ mắc các bệnh khác.
VI. Điều trị
- Cải thiện khẩu phần ăn, bổ sung canxi, photpho và vitamin D vào thức ăn hàng ngày. Nếu con vật bị liệt cần lót ổ cho chó nằm, thường xuyên xoa bóp và trở mình cho con vật.
- Bổ sung vitamin D: 5000UI/con. Tiêm bắp Poly AD 0,5ml/ngày.
- Dùng canxi bổ sung trực tiếp vào máu: Tiêm Vime-Calamin 1ml/2kg thể trọng/ngày.

Bệnh dễ gặp ở mèo

  Mèo là loại động vật cảnh rất gần gũi với con người, song cũng giống như những loại động vật khác, mèo rất dễ mắc bệnh,
thậm chí có cả những loại bệnh nguy hiểm có thể lây lan sang cho con người. Mèo là loại động vật cảnh rất gần gũi với con người, song cũng giống như những loại động vật khác, mèo rất dễ mắc bệnh, thậm chí có cả những loại bệnh nguy hiểm có thể lây lan sang cho con người.
1. Bệnh dại (Rabies)
Bệnh dại là căn bệnh viêm nhiễm virus lây truyền qua vết cắn của một con vật đã nhiễm bệnh, nhiễm trùng gây ảnh hưởng trực tiếp tới hệ thần kinh trung ương, làm cho mèo bị sốt và có những động thái khác thường. Mèo bị bệnh thường có nhớt dãi chảy ra, hay ngáp, đồng tử mắt dãn ra, giảm ăn và có chiếu hướng hung hãn. Vào giai đoạn cuối mèo thường bị tê liệt, suy hô hấp và dẫn đến tử vong.
2. Nhiễm trùng đường hô hấp
Nhiễm trùng đường hô hấp (URI) là căn bệnh nhiễm trùng nguy hiểm ở mèo. Triệu chứng dễ nhận biết như đỏ mũi, mắt đỏ, sốt và kém ăn.
3. Bệnh Feline Panleukopenia (FP)
Bệnh Feline Panleukopenia hay còn gọi là bệnh sốt ho ở mèo. Những con mèo mắc bệnh này thường có số lượng tế bào máu trắng giảm mạnh, gây ảnh hưởng trực tiếp tới hệ miễn dịch và hậu quả làm cho con vật suy yếu và mắc thêm nhiều bệnh khác. Triệu chứng thường thấy như kém ăn, tiêu chảy, nôn mửa, nếu ở thể nặng có thể truyền sang cho con người, vì vậy khi vật bị bệnh nên cách ly để tránh tiếp xúc, bị cắn và lây bệnh.
4. Bệnh FIV
FIV (Feline Imunodeficiency virus) là căn bệnh suy giảm miễn dịch virus truyền từ con vật mắc bệnh sang mèo khỏe mạnh. Hiện tượng thường gặp là viêm nhiễm tại miệng làm cho con vật kém ăn, mắc bệnh hô hấp và viêm nhiễm mãn tính.
5. Bệnh FIP
FIP (Feline Imfectious Peritonitis) là chứng viêm phúc mạc ở mèo và là căn bệnh rất nguy hiểm do virus gây ra. Virus tồn tại trong hai hình thái một là ở thể ướt và hai là ở thể khô, không có dịch ướt ở bụng. Tất cả 2 thể này đều có dấu hiệu như lờ đờ, sốt, tiêu chảy, nôn mửa và kém ăn.
6. Bệnh Chlamydia
Đây là dạng vi khuẩn rất hay gặp ở mèo, gây viêm nhiễm mắt dẫn đến viêm kết mạc và làm cho mèo dễ bị mù. Triệu chứng thường thấy như ho, hắt hơi, biếng ăn, chảy nước mũi, viêm phổi, thở gấp sốt và chảy nước mắt.
7. Bệnh FeLV
FeLV (Feline Leukemia Virus) là căn bệnh gây bệnh bạch cầu do virus ở mèo. Trước tiên nó ảnh hưởng đến hệ thống miễn dịch và nhiều biến chứng nguy hiểm, nhất là nguy cơ gây bệnh ung thư cho con vật. Có thể được truyền từ những con mèo mắc bệnh qua đường ăn uống, tiếp xúc phân, nước tiểu, chất tiết cơ thể hoặc từ mẹ mèo sang mèo con.
8. Bệnh ký sinh trùng
Ký sinh trùng là căn bệnh rất dễ mắc phải ở nhóm vật nuôi trong gia đình, trong đó có chó mèo. Bệnh ký sinh trùng bên ngoài gồm bọ chét, ghẻ, bọ, ve trong tai, trên da vv... nó có thể gây ngứa ngáy tróc da. Một số loại ký sinh trùng bên trong có giun kim, giun tóc, sán..., chúng sống trong hệ thống ruột, tiêu thụ dưỡng chất do mèo ăn vào làm mèo chậm lớn, kém ăn, tiêu chảy, mất nước..., nếu nặng không điều trị có thể gây tử vong.
9. Bệnh tiểu đường
Đây cũng là căn bệnh dễ gặp ở mèo, nguyên nhân chính là do rối loạn nội tiết nhất là ở những con mèo được nuôi dưỡng tốt, mắc bệnh béo phì. Khi mắc bệnh mèo thường phàm ăn và hậu quả làm cho nguy cơ mắc bệnh không giảm.
10. Bệnh về da
Bệnh về da ở mèo rất đa dạng hay được gọi là bệnh rối loạn da, có thể chia ra 4 dạng: viêm nhiễm da, bệnh về da có liên quan đến miễn dịch, bệnh về da mang tính di truyền và cả bệnh bên trong da. Một số loại bệnh thường gặp như gây rụng lông, trứng cá mụn nhọt, ghẻ, lở...
Cách phòng tránh bệnh cho mèo:
Hầu hết các loại bệnh viêm nhiễm ở mèo như bệnh dại bệnh FIV, URF, FIP... có thể phòng tránh được bằng cách tiêm phòng. Ngoài ra giữ vệ sinh nơi ở, ăn uống và cơ thể con vật. Không nên dùng bát để chứa thức ăn chung với những con đã mắc bệnh. Một khi thấy mèo mắc bệnh thì không nên bế ẵm, vuốt ve, cho chúng sống chung với con người mà nên tư vấn bác sĩ thú y, sử dụng thuốc cần thiết.